Phát triển bảo hiểm y tế tự nguyện

Cập nhập: 25/06/2013 04:39

 

I: MỞ ĐẦU

     Sức khoẻ luôn là nguồn vốn quý giá nhất của mỗi con người cũng như của toàn xã hội. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nhân tố con người là trung tâm, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển thì việc chăm sóc, bảo vệ, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Tại Điều 39, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: "Thực hiện bảo hiểm y tế tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ".

     Để góp phần bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng tốt hơn, ngày 14 tháng 11 năm 2008 Quốc hội nước ta đã ban hành Luật BHYT số 25/2008/QH12 với chủ trương thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2014 bằng cách chuyển dần các đối tượng tham gia BHYT sang diện BHYT bắt buộc. Tuy nhiên, độ bao phủ hiện nay của Việt Nam mới khoảng 65% dân số (thành phố Đà Nẵng khoảng 90%). Như vậy, vẫn còn khoảng 35% dân số chưa có thẻ BHYT (thành phố Đà Nẵng khoảng 10%). Quan trọng hơn, những người chưa có thẻ BHYT lại chủ yếu thuộc đối tượng nông dân, người có mức thu nhập trung bình thấp hoặc vừa thoát nghèo, rất dễ bị nghèo hóa nếu chẳng may gặp phải rủi ro về bệnh tật, ốm đau - Đây là nhóm người thuộc đối tượng tham gia BHYT tự nguyện theo quy định hiện nay.
 

     Để thực hiện BHYT toàn dân thì việc phát triển BHYT tự nguyện là việc làm cần thiết và được xem là giai đoạn quá độ. Thông qua hình thức BHYT tự nguyện sẽ tạo điều kiện cho các đối tượng không thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc, nhất là những người có thu nhập thấp được khám bệnh, chữa bệnh, giúp họ thoát khỏi vòng lẩn quẩn: nghèo - ốm đau, bệnh tật - nghèo...
 

     BHYT tự nguyện là chính sách an sinh xã hội dựa trên cơ sở của nguyên tắc số đông bù số ít, thực hiện cấn đối về mặt tài chính. Do đó, trên thực tế còn gặp rất nhiều khó khăn trong tổ chức thực hiện, trong việc cân đối quỹ do tính chất đặc thu của nhóm đối tượng này, như: thu nhập thấp, trình độ nhận thức hạn chế, khi ốm đau mới tham gia... Đối với thành phố Đà Nẵng, mặc dù tỷ lệ tham gia thuộc loại cao nhất so với bình diện chung của cả nước nhưng nhóm đối tượng tham gia BHYT tự nguyện chưa đáp ứng được yêu cầu. Hơn nữa, Thành ủy Đà Nẵng đã có Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 20/12/2011, Hội đồng nhân dân thành phố có Nghị quyết số 23/2011/NQ-HĐND ngày 23/12/2011, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 3630/QĐ-UBND về Kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân năm 2012 và những năm tiếp theo, trước những đòi hỏi của thực tế đó, qua loạt bài này, chúng tôi muốn góp một tiếng nói về phát triển BHYT tự nguyện thông qua việc làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về phát triển BHYT tự nguyện, đánh giá kết quả thực hiện và chỉ rõ những vấn đề đặt ra cho quá trình phát triển BHYT tự nguyện, dự báo xu hướng phát triển và đề xuất giải pháp thực hiện BHYT tự nguyện ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2015 và những năm tiếp theo. Đồng thời, kiến nghị với Chính phủ, các bộ, ngành và thành phố Đà Nẵng bổ sung, sửa đổi chế độ, chính sách cũng như việc tổ chức thực hiện BHYT tự nguyện.       (còn tiếp).

 Nguyễn Hùng Anh

Các tin khác