Xây dựng thương hiệu BHXH Việt Nam, xứng đáng là trụ cột vững chắc của hệ thống An sinh xã hội Quốc gia

Cập nhập: 28/09/2012 09:35

 

 

I. Tiếp cận khái niệm vị trí, vai trò và vị thế xã hội

Vị trí là chỗ được xác định dành riêng cho người nào, vật nào đó; là địa vị, vai trò trong tổ chức. Vai trò là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của con người, tổ chức. Vị thế là vị trí, địa vị trong quan hệ xã hội, về mặt vai trò có ảnh hưởng đến những đối tượng khác, những mặt khác, ví dụ có vị thế cao trong xã hội; vị thế của mỗi dân tộc trên trường quốc tế (1).

Như vậy có thể nhận thấy mối quan hệ mật thiết giữa vị trí, vai trò và vị thế. Cá nhân, tổ chức có vị trí sẽ có vai trò, từ đó có vị thế trong tổ chức, trong xã hội và trên trường quốc tế. Ngược lại, không có vai trò, sẽ không có vị trí, không tồn tại được và không có vị thế xã hội. Muốn có vị thế xã hội phải khẳng định được vai trò và vị trí trong tổ chức, trong xã hội.

Đi sâu tìm hiểu, cho thấy khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu. Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng. Còn vai trò xã hội không có tính chất tưởng tượng, bắt chước cứng nhắc và nhất thời. Những hành vi thực tế của một người nhờ học hỏi được những kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc sống. Vai trò của cá nhân như là một vai diễn là một hoặc nhiều chức năng mà cá nhân ấy phải đảm trách trước xã hội.

 Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định. Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó. Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ. Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội. Vị thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác mà quy định nên. Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội…và tùy theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách.

Vị thế và vai trò luôn gắn bó mật thiết với nhau. Không thể nói tới vị thế mà không nói tới vai trò và ngược lại. Vai trò và vị thế là hai mặt của một vấn đề. Vị thế của cá nhân được xác định bằng việc trả lời cho câu hỏi: người đó là ai? Và vai trò của cá nhân được xác định bằng cách trả lời câu hỏi: người đó phải làm gì? Vai trò phụ thuộc vào vị thế (vị thế nào vai trò ấy). Một vị thế có thể có nhiều vai trò. Trong mối quan hệ giữa vị thế và vai trò thì vị thế thường ổn định hơn, ít biến đổi hơn, còn vai trò thì biến động hơn. Thông thường thì sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào sự biến đổi của vị thế. Vị thế biến đổi thì vai trò cũng biến đổi.

Vị trí, vai trò và vị thế xã hội của một cơ quan, tổ chức, quốc gia cũng không nằm ngoài các quan điểm trên.

 

II. Vấn đề thương hiệu và vị thế xã hội   

Có rất nhiều khái niệm thương hiệu, mỗi người, mỗi tổ chức hay mỗi một quốc gia có những quan niệm khác nhau. Tại Mỹ, Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ quan niệm rằng: “Thương hiệu là một cái tên, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay hình vẽ kiểu thiết kế, hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xây dựng và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh”.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy thương hiệu không phải chỉ đơn thuần là cái tên, là một đối tượng trong sở hữu trí tuệ, mà là một thuật ngữ phổ biến. Trong Marketing thương hiệu thường được người ta sử dụng khi đề cập tới: nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại của tổ chức, cá nhân trong một hoạt động kinh doanh hay một logo, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng, thiết kế, bao bì. Nhưng những hình thức bên ngoài này phải phản ánh đúng, tạo ra ấn tượng thể hiện cái bên trong để người tiêu dùng cảm thấy an tâm khi sử dụng sản phẩm đó. Giá trị của thương hiệu là triển vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Hay nói cách khác thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp.

Một thương hiệu được thừa nhận rộng rãi trên thị trường tức là đã đạt được sự khẳng định thương hiệu. Người tiêu dùng thường tìm kiếm trong những sản phẩm hoặc dịch vụ có thương hiệu những khía cạnh giá trị gia tăng, vì chúng cho thấy một phẩm chất hoặc tính cách hấp dẫn nào đó. Từ góc độ của nhà sở hữu thương hiệu, các sản phẩm và dịch vụ có thương hiệu bao giờ cũng bán được giá cao hơn. Khi có hai sản phẩm tương tự như nhau, nhưng có một sản phẩm có thương hiệu còn một sản phẩm không có thương hiệu, người tiêu dùng thường chọn sản phẩm có thương hiệu và đắt tiền hơn dựa trên chất lượng gắn với uy tín của thương hiệu đó.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa: “Thương hiệu là khái niệm người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hóa nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức”.

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) định nghĩa “Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức”.

Như vậy, thuật ngữ thương hiệu đã được hiểu rộng hơn, là dấu hiệu đặc biệt có thể là hữu hình hoặc vô hình của các lĩnh vực khác, không đơn thuần chỉ là khu vực sản xuất, kinh doanh, buôn bán thương mại. Tuy nhiên, về mặt đặc trưng, nó được hiểu là một dạng tài sản phi vật chất, một thành tố quan trọng trong văn hóa, kinh tế và hoạt động xã hội. Theo Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: “Thương hiệu là tất cả sự cảm nhận của người tiêu dùng hay khách hàng mục tiêu về sản phẩm hay doanh nghiệp” (2). Với quan điểm này, thương hiệu không phải chỉ đề cao tính quảng bá, phổ biến sản phẩm mà coi trọng tính thực chất, giá trị mang lại cho đối tượng phục vụ.

Yếu tố cấu thành của thương hiệu, bao gồm phần đọc được và phần không đọc được. Phần đọc được bao gồm những yếu tố có thể tác động vào thính giác của người nghe như tên tổ chức, doanh nghiệp, tên sản phẩm, câu khẩu hiệu (Slogan) đặc trưng, đoạn nhạc, hát và các yếu tố phát âm khác.

Phần không đọc được bao gồm những yếu tố chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng, màu sắc, hay kiểu dáng thiết kế, bao bì và các yếu tố nhận biết (bằng mắt) khác. Đối với các hoạt động mang tính xã hội, cảm nhận, đánh giá phần không đọc được của thương hiệu được kiểm chứng qua điều tra, khảo sát nhận thức, nghiên cứu dư luận xã hội về sự hài lòng, chất lượng phục vụ.

Thương hiệu có tính biểu tượng, thể hiện bản sắc riêng. Bản sắc của thương hiệu là những giá trị mà nhà sản xuất sở hữu thương hiệu muốn người tiêu dùng tin vào và nhận biết sản phẩm. Những thương hiệu có sức sống lâu dài thường là những thương hiệu dễ nhớ, có thể duy trì qua nhiều xu hướng đổi thay, và mang lại một ấn tượng tích cực. Bản sắc của thương hiệu là hết sức quan trọng giúp người tiêu dùng nhận ra sản phẩm; nó chính là biểu tượng của sự khác biệt của một thương hiệu so với những sản phẩm cạnh tranh khác.

Thương hiệu mạnh cũng là tài sản của từng doanh nghiệp, tổ chức và rộng ra là của quốc gia. Từ việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến sản phẩm hàng hóa; phong cách bán hàng, phục vụ, làm việc; cung cách truyền thông, quảng bá, quảng cáo… thường được kết tinh vào thương hiệu. Một tổ chức, một doanh nghiệp hay cao hơn là các tổ chức mang tầm quốc gia, đại diện quốc gia, những con người tiêu biểu của dân tộc đã có thương hiệu cao thì thường có ý thức gìn giữ phát huy thương hiệu đó.

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, phát triển, việc xây dựng thương hiệu quốc gia hiện là chủ đề thời sự và thiết thực, được nhiều nước quan tâm. Trong Toàn cầu hóa và bản sắc (Globalization and Identity), Nxb Oxford University Press, 2006, Raymond Miller viết: “Việc quảng bá thành công thương hiệu quốc gia ra ngoài nước cũng quan trọng như những hàng hóa được sản xuất và xuất khẩu”. Mỗi quốc gia, đều ứng với một thương hiệu, nghĩa là một số ấn tượng đã được định hình trong tâm trí nhóm dân cư, và từng người tiêu dùng, từ đó chi phối hành vi mua sắm sản phẩm và dịch vụ của dân cư.

Giữa thương hiệu và vị thế xã hội có mối quan hệ biện chứng, gắn kết, bổ sung cho nhau. Quốc gia, tổ chức, cá nhân có thương hiệu mạnh, đồng nghĩa với có vai trò, vị trí và ảnh hưởng xã hội lớn, tạo nên vị thế cao. Ngược lại, có vị trí, vai trò, vị thế xã hội cao cũng sẽ tạo nên thương hiệu mạnh. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp cá biệt có thương hiệu mạnh nhưng chưa hẳn đã có vị thế xã hội cao và ngược lại có vị thế xã hội cao có thể thương hiệu không mạnh. Điều đáng lưu ý là thương hiệu mạnh, vị thế cao nhưng phải đảm bảo tính bền vững bằng chính sức mạnh nội lực. Vị thế đất nước, vị thế của tổ chức xã hội là những giá trị tự thân được đo đạc bằng những tiêu chí hết sức cụ thể, trong đó chất lượng, hiệu quả công việc gắn liền với chất lượng phục vụ phải thực sự vì dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được coi là những điều kiện tiên quyết.

 

III. Thương hiệu, vị thế BHXH Việt Nam và vấn đề đặt ra

Là cơ quan thuộc Chính phủ, một hoạt động dịch vụ xã hội đặc biệt, không vì lợi nhuận, với bản chất nhân văn sâu sắc, vì An sinh xã hội, được Nhà nước bảo hộ, BHXH Việt Nam có vai trò, vị trí hết sức quan trọng, trụ cột của hệ thống An sinh xã hội quốc gia. Một Ngành trực tiếp tổ chức thực hiện 02 luật quan trọng liên quan đến An sinh xã hội (Luật BHXH, Luật BHYT). Có thể nói, bản thân vị trí, chức năng, nhiệm vụ của BHXH Việt Nam đã khẳng định thương hiệu mạnh của tổ chức BHXH.

Với vị trí, vai trò quan trọng, và với những đóng góp cho mục tiêu bảo đảm An sinh xã hội, vị thế xã hội của BHXH Việt Nam ngày càng được khẳng định, thể hiện thông qua định hướng, đánh giá, nhìn nhận, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp thực hiện có hiệu quả của các bộ, ban ngành Trung ương và cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp. Có thể liệt kê những yếu tố, sự kiện quan trọng đã từng bước nâng cao vị thế của Ngành, đó là: Những định hướng phát triển BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân trong các văn kiện của Đảng từ Đại hội VI đến nay; những quy định về thực hiện BHYT (Điều 39) và BHXH (Điều 56) trong Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992; Quy định về BHXH trong Bộ Luật Lao động (1994); việc thành lập Ngành BHXH Việt Nam năm 1995 và các Nghị định hướng dẫn thực hiện, đến việc Quốc hội thông qua Luật BHXH (2006), Luật BHYT (2008);  Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 26/5/1997 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH; Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 07/9/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới; Thủ tướng Chính phủ quyết định chọn ngày 01/7 là Ngày BHYT Việt Nam (2009); BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ duy nhất được Bộ Chính trị quyết định lập Ban Cán sự Đảng, (tổ chức Đảng cao nhất chỉ có ở các Bộ), do được Đảng và Chính phủ giao thực hiện nhiệm vụ chính trị rất quan trọng, trụ cột của hệ thống An sinh xã hội có hệ thống tổ chức thống nhất theo Ngành dọc từ Trung ương đến các huyện, thị trong cả nước, và trong lãnh đạo phải toàn diện thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở; có sự quản lý và phối hợp chặt chẽ của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trong tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT, BHTN cho mọi tầng lớp cán bộ, nhân dân; năm 2011, Đảng bộ cơ quan BHXH Việt Nam được Đảng ủy Khối các Cơ quan Trung ương nâng cấp lên thành Đảng bộ cấp trên cơ sở; sự quan tâm tăng cường phối hợp trong quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành và toàn xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Lao động  - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Tòa án Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Cục Phòng chống tội phạm - Bộ Công an...);…

Với vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ được giao và thành tựu trên 17 năm xây dựng, phát triển, có thể khẳng định BHXH Việt Nam hiện nay là tổ chức có thương hiệu mạnh, trụ cột của hệ thống An sinh xã hội, chỗ dựa vững chắc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân. Trụ sở BHXH Việt Nam ngay bên cạnh hồ Hoàn Kiếm, con dấu BHXH Việt Nam mang hình Quốc huy, là niềm vinh dự, tự hào của các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành. Biểu trưng bông hoa 05 cánh của BHXH Việt Nam cùng cuốn sổ hưu trí, tấm thẻ BHYT màu xanh đã trở nên quen thuộc đối với mọi người, mọi nhà.

Tuy nhiên, qua thực tiễn tổ chức thực hiện, không ít cán bộ các cấp, các ngành và người tham gia vẫn nhầm lẫn BHXH là đơn vị sản xuất, kinh doanh, đôi khi vẫn có người gọi là “Công ty”; có đồng chí lãnh đạo địa phương còn phê bình Ngành BHXH còn chậm “cổ phần hóa”…; qua các kênh thông tin phản hồi cho thấy cảm nhận của đối tượng tham gia, thụ hưởng ở khía cạnh hài lòng về chất lượng phục vụ còn là vấn đề đáng phải quan tâm. Kết quả khảo sát của Viện Khoa học BHXH, BHXH Việt Nam công bố mới đây cho biết 2,85% ý kiến người về hưu cho rằng nhân viên BHXH còn lạnh lùng, hách dịch; 4,24% cho rằng nhân viên BHXH hướng dẫn giải thích không rõ ràng; một số ý kiến không khen, không chê; về BHYT có 20,78% ý kiến cho rằng có cảm giác bị phân biệt đối xử khi nằm điều trị nội trú; 14,2% cho rằng thuốc cấp BHYT điều trị không khỏi bệnh. Mặc dù cán bộ BHXH không trực tiếp khám chữa bệnh cho người có BHYT, đó là trách nhiệm của cơ sở y tế, nhưng rõ ràng những phản ánh đó cũng đặt ra vấn đề về trách nhiệm kiểm tra, giám sát, bảo vệ quyền lợi bệnh nhân BHYT của đội ngũ nhân viên BHXH trực tại bệnh viện nói riêng và cán bộ BHXH nói chung. Cùng với đó, vị thế của BHXH Việt Nam mặc dù đã từng bước nâng cao, nhưng so với tổng thể chung của thực tiễn xã hội còn chưa tương xứng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ được giao. Một nghiên cứu do Tạp chí BHXH tiến hành tháng 5/2012, cho kết quả ý kiến đội ngũ Giám đốc BHXH trong toàn quốc nhận định công tác truyền thông báo chí góp phần nâng cao vị thế của Ngành với mức độ từ bức thiết đến rất bức thiết chiếm tỷ lệ trên 73,5%. Kết quả này cho thấy ý chí, nguyện vọng của đông đảo cán bộ chủ chốt trong Ngành mong muốn cấp thiết cần có giải pháp nâng cao hơn vị thế trong thời gian tới. 
   

IV. Làm gì để giữ vững thương hiệu, nâng cao vị thế BHXH Việt Nam

Nếu như các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, thương hiệu tạo ra hình ảnh cho sản phẩm, uy tín cho doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa và là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh. Thì đối với tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận như BHXH Việt Nam, thương hiệu mạnh sẽ tạo niềm tin cho người tham gia, củng cố lòng tin của người dân vào chế độ, chính sách xã hội ưu việt của Đảng và Nhà nước; đồng thời có thương hiệu giúp BHXH Việt Nam thuận lợi hơn trong thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao.

Vai trò của thương hiệu không chỉ có ý nghĩa duy trì sự phát triển bền vững BHXH Việt Nam mà còn làm tăng số lượng người mới tham gia BHXH, thực hiện tốt nguyên tắc cơ bản của hoạt động bảo hiểm là chia sẻ rủi ro, lấy số đông bù số ít. Việc tăng số lượng người tham gia không chỉ đảm bảo cân đối quỹ, mà còn thực hiện mục tiêu nhân văn, nhiều người được bảo vệ bởi chính sách BHXH, BHYT. Một thương hiệu mạnh sẽ giúp BHXH Việt Nam giảm chi phí truyền thông và dễ dàng hơn trong việc thu hút người tham gia BHXH. Với một thương hiệu mạnh, với những lợi thế riêng có của tổ chức hoạt động dịch vụ xã hội đặc biệt, không vì lợi nhuận, BHXH Việt Nam dễ dàng, phát triển mạnh các chế độ BHXH, BHYT tự nguyện cho các đối tượng phi chính thức theo quy định của pháp luật.

Để nâng cao vị thế, tương xứng với vai trò, vị trí của BHXH Việt Nam trong đời sống xã hội, toàn hệ thống cần giữ vững thương hiệu đã có, củng cố, gìn giữ, phát huy lợi thế bằng các giải pháp tổng thể đó là: Thực hiện tốt chiến lược cán bộ, ngay từ khâu tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ; coi trọng chất lượng nguồn nhân lực, đủ sức, đủ tầm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. “Nói đi đôi với làm” theo tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới tư duy về truyền thông, có chiến lược và thực hiện tốt nghệ thuật truyền thông, tiếp thị xã hội; đa dạng hóa nội dung, hình thức truyền thông. Đặc biệt, phải thật sự coi người tham gia “là thượng đế”, là đối tác lâu dài; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ, khoa học quản lý, đổi mới phong cách, nâng cao chất lượng phục vụ, xây dựng uy tín vững chắc, xứng đáng với lòng tin của Đảng, Chính phủ và nhân dân.

- “Để thành công trong công việc, con người không thể chỉ dựa vào thuyết “Hữu xạ tự nhiên hương” mà còn phải biết nói, biết giới thiệu, truyền thông cho mọi người biết những điều tốt đẹp về mình. Nhưng những điều đó phải là thật sự, hơn thế nữa nó phải được nói một cách chân thành, xây dựng” - Arthur Page (Nhiều tác giả, Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, tập 6, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005)

- “Hãy làm thật tốt và hãy nói, chớ quên” - Kinh Thánh.

 

ThS - NCS.Dương Văn Thắng

                                                                        Tổng Biên tập Tạp chí BHXH

 

Các tin khác