Thư ngỏ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đến người tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế

Một số quy định mới liên quan đến BHXH, BHYT, BHTN có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

Cập nhập: 30/12/2017 02:39

 Từ 01/01/2018, một số quy định mới liên quan đến pháp luật về Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) có hiệu lực thi hành. Cụ thể dưới đây:

1. Mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc:

Theo quy định tại Điểm b, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 Luật BHXH 2014 bổ sung 2 đối tượng tham gia BHXH bắt buộc từ ngày 01/01/2018. cụ thể là:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

 

2. Thay đổi điều kiện về độ tuổi hưởng lương hưu:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 55 Luật BHXH năm 2014 và Khoản 1 Điều 16 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH thì từ năm 2018 trở đi, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%, đã có từ đủ 20 năm đóng BHXH trở lên được nghỉ hưởng lương hưu khi có đủ điều kiện về tuổi đời như sau:

 

 Năm nghỉ hưu

Tuổi đời đối với nam

Tuổi đời đối với nữ

2018

Từ đủ 53 tuổi trở lên

Từ đủ 48 tuổi trở lên

2019

Từ đủ 54 tuổi trở lên

Từ đủ 49 tuổi trở lên

2020 trở đi

Từ đủ 55 tuổi trở lên

Từ đủ 50 tuổi trở lên

 

 

3. Thay đổi cách tính tỷ lệ % hưởng lương hưu:

Từ ngày 01/01/2018, tỷ lệ % hưởng lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu được tính dựa theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 Luật BHXH năm 2014. Cụ thể:

Đối với nam: Từ 01/01/2018 có lộ trình tăng dần số năm đóng BHXH để đạt tỷ lệ 75%. Cụ thể:

Năm 2018: 16 năm đóng BHXH được tính 45%

Năm 2019: 17 năm đóng BHXH được tính 45%

Năm 2020: 18 năm đóng BHXH được tính 45%

Năm 2021: 19 năm đóng BHXH được tính 45%

Năm 2022: 20 năm đóng BHXH được tính 45%

Sau đó cứ mỗi năm tiếp theo được cộng thêm 2%, mức tối đa là 75%.

Để đạt được tỷ lệ 75% thì số năm đóng BHXH tương ứng là: Năm 2018: 31 năm; Năm 2019: 32 năm; Năm 2020: 33 năm; Năm 2021: 34 năm và từ năm 2022 trở đi là 35 năm.

 Đồng thời nếu nghỉ hưu trước tuổi quy định (60 tuổi) mà không có yếu tố miễn giảm về tuổi đời (15 năm làm nghề nặng nhọc độc hại, 15 năm làm việc ở vùng có Phụ cấp khu vực 0,7% trở lên) thì mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi bị giảm trừ 2%.

 Đối với lao động nữ: Từ 01/01/ 2018 trở đi: 15 năm đóng BHXH được tính 45%, sau đó mỗi năm tiếp theo cộng thêm 2% (từ 2017 về trước cộng thêm 3%), mức tối đa 75% tương ứng 30 năm đóng BHXH;

 Đồng thời nếu nghỉ hưu trước tuổi quy định (55 tuổi) mà không có yếu tố miễn giảm về tuổi đời (15 năm làm nghề nặng nhọc độc hại, 15 năm làm việc ở vùng có Phụ cấp khu vực 0,7% trở lên) thì mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi bị giảm trừ 2%.

 

4. Bổ sung căn cứ đóng BHXH bắt buộc:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 89 Luật BHXH năm 2014 và tại Khoản 2 Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH thì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người lao động theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định  từ ngày 01/01/2018 trở đi bao gồm:

- Mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH;

- Các khoản bổ sung khác theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH.

 

 

5. Hỗ trợ từ 10% - 30% tiền đóng BHXH cho người tham gia BHXH tự nguyện:

Theo quy định tại Điều 14 và Khoản 2 Điều 17 Nghị định 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ, từ 01/01/2018 người tham gia BHXH tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn, cụ thể:

- Bằng 30% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo;

- Bằng 25% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ cận nghèo;

- Bằng 10% đối với các đối tượng khác.

 

 

6. Tăng mức lương tối thiểu vùng từ 180.000 - 230.000 đồng/tháng:

Nghị định 141/2017/NĐ-CP quy định về việc tăng lương tối thiểu vùng. Theo đó, bắt đầu từ ngày 01/01/2018, mức lương tối thiểu vùng sẽ được tăng thêm từ 180.000 - 230.000 đồng/tháng, mức lương cụ thể như sau:

- Vùng I: 3.980.000 đồng/tháng;

- Vùng II: 3.530.000 đồng/tháng;

- Vùng III: 3.090.000 đồng/tháng;

- Vùng IV: 2.760.000 đồng tháng.

 

 

7. Chính thức áp dụng xử lý trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT,BHTN:

Nghị quyết số: 41/2017/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017 Quyết nghị Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Trong đó, đáng chú ý là lần đầu tiên áp dụng việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN quy định tại các Điều 214, 215,216. Cụ thể:

Điều 214. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp:

.         Điều 215. Tội gian lận bảo hiểm y tế:

Quy định người nào có các hành vi gian lận về BHXH, BHYT, BHTN, như lập hồ sơ giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ hoặc dùng hồ sơ giả để lừa dối cơ quan Nhà nước nhằm chiếm đoạt tiền BHXH, BHYT, BHTN thì bị xử lý hình sự theo một trong các hình phạt sau đây:

- Phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu;

- Phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm;

- Phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Nếu vi phạm ở mức độ nặng hơn như: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; Tái phạm nguy hiểm… thì bị xử lý hình sự theo một trong các hình phạt sau đây:

- Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng;

- Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

 Phạm tội Chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 500.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

Điều 216. Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động:

Quy định người nào có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp: Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị xử lý hình sự theo một trong các hình phạt sau đây:

- Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng;

- Phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm;

- Phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

Nếu vi phạm ở mức độ nặng hơn gồmPhạm tội 02 lần trở lên; Trốn đóng bảo hiểm số tiền lớn, số người lớn; Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động thì tùy theo mức độ vi phạm mà bị xử lý hình sự theo một trong các hình phạt sau đây:

- Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

- Phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm:

- Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

- Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;

- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Đối với Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, tùy theo mức độ vi phạm bị phạt như sau:

- Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

 

 

Lê Anh Nhân - Phó Giám đốc BHXH TPĐN

Các tin khác